Phân tích, kiểm nghiệm chất lượng nước tại các trường học, Nước sạch tại các trường học có thật sự sạch? Thực trạng sử dụng nước sạch trong các trường học, Kết quả phân tích một số mẫu nước tại một số trường
Khi môi trường nước bị ô nhiễm nặng nề thì ngoài mối lo về thực phẩm bẩn không rõ nguồn gốc, kém chất lượng được đưa vào bếp ăn nhà trường thì chất lượng nước dùng cho học sinh cũng là nỗi lo thường trực của nhiều người. Mặc dù năm học nào, ngành GD-ĐT cũng tiến hành kiểm nghiệm nước ăn uống, sinh hoạt song vẫn khó kiểm soát chất lượng nước tại các trường học.
Học sinh uống nước tại trường nhưng còn băn khoăn về vệ sinh và chất lượng, trong khi nhiều em mang nước theo từ nhà.
Nước uống học đường là vấn đề mang tính toàn cầu. Báo cáo năm 2018 về nước uống và nhà vệ sinh tại trường học do Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và UNICEF thực hiện tại 92 quốc gia (không có Việt Nam), cho thấy 69% trường học toàn cầu có dịch vụ nước uống cơ bản. Khái niệm này có nghĩa là nước được lấy từ nguồn cải thiện như nước đường ống, lỗ khoan hoặc ống dẫn nước, giếng đào hoặc suối được bảo vệ, nước đóng chai hoặc có nguồn gốc an toàn từ cơ sở sản xuất uy tín. Điều này cũng đi kèm nước có sẵn ở trường tại thời điểm khảo sát.
Cứ 4 trường tiểu học hoặc 6 trường trung học thì có một điểm không có dịch vụ nước uống. Nhìn chung, gần 600 triệu trẻ em thiếu dịch vụ nước uống cơ bản tại trường. Chưa đến một nửa số trường học ở châu Đại Dương và hai phần ba trường học ở Trung và Nam Á có dịch vụ nước uống cơ bản.
Ở nhiều trường học tại các quốc gia, học sinh thường mang nước từ nhà khi trường học không có nguồn cung cấp nước uống riêng hoặc nước có sẵn không đủ hay chất lượng kém.
Nước sạch tại các trường học có thật sự sạch?
Nhiều phụ huynh khi gửi con em đến trường thì đặt trọn niềm tin vào nhà trường song sự thấp thỏm về chất lượng nguồn nước vẫn hiện hữu. Xét theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, nước dùng trong ăn uống, sinh hoạt phải đảm bảo các chỉ tiêu hóa học, vi sinh vật… nhưng thực tế khó có thể kiểm định mức độ đáp ứng của nguồn nước mà các trường học đang sử dụng vì nhìn chung, nguồn nước ăn uống, sinh hoạt tại Việt Nam chưa thật sự là nguồn nước sạch.
Nước là thành phần quan trọng đối với cơ thể nhưng đây không phải trọng tâm suy nghĩ của học sinh mỗi ngày đến trường, vì trước mắt các em luôn là nhiều lựa chọn khả dĩ khác.



Cuộc sống thời 4.0 cũng mang đến những lựa chọn khác cho học sinh chỉ với vài cú quẹt tay. Trà sữa, nước ép, cà phê… đều có thể được giao đến tận trường chỉ trong khoảng nửa tiếng thông qua các ứng dụng công nghệ. Các em chẳng có lý do gì để quá bận tâm liệu trường có trang bị nước hay không và sâu hơn là liệu số nước đó có đủ và đảm bảo an toàn. Bên ngoài kia, mọi thứ được đánh giá “hấp dẫn và đỡ tốn sức hơn”.
Theo WHO và UNICEF, dù thế nào đi nữa, trường học cuối cùng cũng có nhiệm vụ đảm bảo đủ số lượng nước uống an toàn có sẵn cho tất cả học sinh trong suốt ngày học.
“Tuy nhiên, chúng ta phải đối mặt với cuộc chiến khó khăn trong việc đảm bảo kinh phí để ưu tiên lắp đặt và duy trì dịch vụ nước, vệ sinh và nhà vệ sinh cơ bản tại tất cả trường học”.
Cùng PTN trọng điểm về An toàn thực phẩm và Môi trường kiểm nghiệm nước ăn uống, sinh hoạt tại các trường học
Khi quy mô giáo dục đang ngày càng mở rộng, để có được chất lượng giáo dục bền vững, toàn diện thì công tác bảo đảm an toàn thực phẩm nói chung và bảo đảm chất lượng nước nói riêng cho học sinh tại trường học được coi là nhiệm vụ trọng tâm.
Và để đồng hành cùng các trường học chắp cánh cho các thế hệ tương lai, PTN trọng điểm về An toàn thực phẩm và Môi trường có chính sách thực hiện các chi tiêu kiểm nghiệm nước ăn uống, sinh hoạt với giá vô cùng ưu đãi cho nhóm khách hàng là các trường mầm non, tiểu học, trung học nói chung.
PTN trọng điểm về An toàn thực phẩm và Môi trường kiểm nghiệm cả vi sinh và hóa lý, đáp ứng được các chỉ tiêu để đánh giá và kiểm nghiệm nước ăn uống, sinh hoạt phổ biến nhất hiện nay là: QCVN 02:2009/BYT áp dụng cho nước dùng trong sinh hoạt; QCVN 01:2009/BYT áp dụng cho nước dùng trong ăn uống; QCVN 6-1:2010/BYT áp dụng cho nước dùng trong kinh doanh dây chuyền sản xuất nước tinh khiết, nước đóng bình, đóng chai; QCVN 6-2:2010/BYT áp dụng cho nước uống không cồn, bao gồm nước rau quả, nectar rau quả và đồ uống pha chế sẵn không cồn.


